Cây Xấu Hỗ Và Bài Thuốc Chữa Bệnh Mất Ngủ, Nhức Xương Khớp

Cây xấu hỗ còn có tên là cây mắc cỡ, cây thẹn, cây trinh nữ, tu thảo

  • Tên khoa học Mimosa pudica L.
  • Thuộc họ Trinh nữ Mimosaceae

Tên xấu hổ do lá cây và cành cụp xuống khi có người đụng vào lá cây. Ta dùng toàn cây hoặc lá và rễ cây xấu hổ

Mô tả cây xấu hỗ

Hình ảnh cây xấu hỗ
Hình ảnh cây xấu hỗ

Cây xấu hỗ chỉ mọc hoang lòa xòa ở ven đường cái, thân có gai hình móc. Lá hai lần kép lông chim, nhưng cụp xuống. Cuống chung gầy, mang nhiều lông, dài 4cm, cuống phụ 2 đôi, có lông trắng cứng. Lá chét 15 – 20 đôi nhỏ, gần như không có cuống.

Hoa xấu hỗ có màu tím đỏ, tụ thành hình đầu trái xoan. Quả giáp dài 2cm, rộng 3mm, tụ thành hình ngôi sao ở phần giữa các hạt quả hẹp lại, có lông cứng ở mép. Hạt gần như hình trái xoan, dài 2mm, rộng 1,5mm

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây xấu hỗ mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta, không phải trồng. Người ta đào rễ cây xấu hỗ vào quanh năm, rửa sạch đất cát, thái mỏng, phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Từ cây xấu hổ người ta đã lấy ra được một chất ancaloit gọi là mimosin C8H10O4N2

Theo một số tác giả (R. Adams và J. Wibaut) thì mimosin là đồng phân lập thể của Leucenol một chất lấy được từ hạt keo đậu Leucaena glauca. Tuy nhiên mimosin chưa phải hoạt chất độc nhất.

Trong lá vào tháng 8, hàm lượng selen là 3.000 γ/g và giảm dần đến tháng 12 chỉ còn 300  γ/g

Trong quả vào tháng 8, hàm lượng selen là 290 γ/g và sau đó tăng dần tới 1.560 γ/g trong tháng 12

Và tác giả nhận xét rằng lá cây xấu hổ có hàm lượng selen rất cao vào mùa hè rồi giảm nhanh, trong khi đó hàm lượng selen trong quả lại tăng (Đàm Trung Bảo và cộng sự 1977, Hội nghị khoa học Trường Đại học dược khoa Hà Nội, 1974 – 1977)

Tác dụng dược lý

Rễ cây xấu hỗ dùng chữa bệnh mất ngủ, đau nhức xương
Rễ cây xấu hỗ dùng chữa bệnh mất ngủ, đau nhức xương

Nghiên cứu một số tác dụng dược lý của cây xấu hổ cho thấy cây có những tác dụng sau:

Tác dụng ức chế thần kinh trung ương: Những kết quả nghiên cứu chứng minh kinh nghiệm trong nhân dân dùng cây xấu hổ chống mất ngủ: Hexobacbital và meprobamat chuyển hóa qua microsom gan để mất tác dụng, bacbitan không chuyển hóa qua gan. Xấu hổ có tác dụng hiệp đồng với Hexobacbital, meprobamat đồng thời tăng tác dụng của bacbital.

Điều này khẳng định tác dụng ức chế thần kinh trung ương của xấu hổ. Tuy nhiên tác dụng hiệp đồng với barbital không mạnh như khi kết hợp cây xấu hổ với meprobamat hay Hexobacbital.

Tác dụng chấn kinh: Xấu hổ có tác dụng làm chậm thời gian xuất hiện co giật của cacdiazol

Tác dụng giảm đau: Thí nghiệm theo 3 phương pháp: mâm đồng (ở 56 độ C), phương pháp Collier (gây đau bằng axetylcolin) và phương pháp Nilsen ( kích thích điện) đều thấy có tác dụng rõ rệt

Tác dụng của xấu hổ giải độc axit asenơ: uongs xấu hổ cùng một lúc với axit asenơ thì xấu hổ cứu cho chuột khỏi chết do axit asenơ rất rõ rệt, nếu uống trước 24h thì xấu hổ vẫn cứu sống chuột khỏi chết vì axit asenơ.

Công dụng và liều dùng

Lá và rễ cây xấu hỗ được sử dụng làm thuốc. Với những công dụng, dạng và liều dùng như sau:

Lá cây xấu hổ được dùng làm thuốc ngủ và dịa thần kinh. Liều dùng hàng ngày 6 – 12g dưới dạng thuốc sắc, uống trước khi đi ngủ

Rễ cây xấu hổ được dùng chữa bệnh nhức xương. Rế cây xấu hổ thái thành từng miếng mỏng phơi khô.

Ngày dùng 120g rang sau đó tẩm rượu 35 – 40 độ rồi lại rang cho khô. Thêm 600ml nước, sắc còn 200 – 300ml. Chia số nước còn lại làm 2 – 3 lần uống trong ngày. Thường dùng 4 – 5 ngày thấy kết quả. Cần chú ý nghiên cứu thêm

Nguồn bài viết: incontinet.com